1. Giao tiếp ngôn ngữ là quá trình tương tác lẫn nhau giữa người nói và người nghe. Các phát ngôn lệ thuộc vào niềm tin và ý định của người nói, vào sự chờ đợi, sự suy luận của người nghe, vào vốn hiểu biết chung giữa người nói và người nghe. Tuỳ theo ngữ cảnh mà cùng một phát ngôn có thể được lĩnh hội một cách khác nhau. Cũng tuỳ theo ngữ cảnh mà những thành tố được vận dụng trong đó sẽ có nội dung ngữ nghĩa xác định. Khi được vận dụng trong giao tiếp, nghĩa của tục ngữ nói chung sẽ được hiện thực hoá. Điều này cho thấy khảo sát nghĩa của tục ngữ không chỉ nên dựa vào văn bản mà còn cần phải tìm hiểu chúng trong ngữ cảnh.

Trong phần "Tiểu luận" của quyển "Tục ngữ Việt Nam", Chu Xuân Diên có viết: "Trong sáng tác dân gian của mỗi dân tộc, tục ngữ là thể loại có mối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Tục ngữ được sáng tạo ra trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của quần chúng lao động..." [1,11-12]. Chính vì vậy, nghiên cứu nghĩa của tục ngữ cần đi theo hai hướng: tìm hiểu văn bản và tìm hiểu qua sự vận dụng văn bản đó trong thực tế giao tiếp. Nếu chỉ dừng ở việc khảo sát nghĩa của văn bản tục ngữ mà chúng ta sưu tầm được thì sẽ không thể biết được tục ngữ được tái hiện như thế nào trong giao tiếp và với nghĩa cụ thể ra sao. Tục ngữ được sản sinh ra trong lời ăn tiếng nói và tái hiện không ngừng trong hoạt động ngôn giao. Chính trong quá trình vận dụng mà nghĩa của tục ngữ mới được hiện thực hoá; được tồn sinh, tái tạo và thực hiện các chức năng của mình. Điều này không chỉ phù hợp với đặc trưng thể loại mà còn cho chúng ta thấy người ta đã tri nhận tục ngữ như thế nào cũng như giá trị sử dụng của chúng trong giao tiếp. Mặt khác, do sự chi phối của các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh, đối tượng, mục đích giao tiếp...mà khi xuất hiện trong chuỗi lời nói, tục ngữ có thể thu nhận cho mình nét nghĩa mới, nghĩa do ngữ cảnh tạo ra. Đồng thời, các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ cũng có thể chi phối diện mạo của tục ngữ. Nghĩa là cấu trúc của tục ngữ có thể được giữ nguyên nhưng cũng có thể bị phá vỡ, cải biến trong từng trường hợp vận dụng nhất định. Đấy là một thực tế và chúng tôi đã ghi nhận không ít ngữ cảnh trong đó tục ngữ được vận dụng ở dạng như thế.

1.1. Nói chung, trong xu hướng hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tiếp cận văn học dân gian trong ngữ cảnh, trong diễn xướng. Về vấn đề này, Nguyễn Thị Hiền có viết như sau: "Cách tiếp cận theo diễn xướng không phải phủ nhận tầm quan trọng của văn bản folklore được sưu tầm trước đây mà văn bản hoá diễn xướng có thể làm được để giúp việc nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ truyền miệng trong thực tế nó được diễn xướng. Văn bản có kèm theo những thông tin về nghệ thuật diễn xướng cung cấp tư liệu về người diễn xướng và khung cảnh văn hoá xã hội. Kinh nghiệm nghiên cứu folklore từ những thập kỉ gần đây ở Hoa Kỳ về việc thể hiện cả hai yếu tố ngôn từ và phi ngôn từ trong một chừng mực nhất định đưa ra một khuôn mẫu mới của văn bản. [4, 602- 603]. Điều này, với tục ngữ có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì, tách rời khỏi môi trường vận dụng, tục ngữ chỉ còn là những văn bản khô cứng, dẫu rất lí thú vì cung cấp cho ta biết được cách nói, cách nghĩ, dấu ấn văn hoá của thời đại mà tục ngữ đã được sản sinh và tồn tại nhưng vẫn thiếu đi hơi thở của cuộc sống đời thường vốn rất phong phú, sinh động, muôn hình, vạn vẻ.

1.2. Tầm quan trọng của việc khảo sát tục ngữ trong ngữ cảnh đã được Alan Dundes đề cập từ lâu trong tiểu luận "Kết cấu, văn bản và bối cảnh" (Texture, text, and context). Ông viết: "Ghi bối cảnh là quan trọng cho mọi thể loại Folklore, nhưng nó tuyệt đối cần thiết cho tục ngữ và điệu bộ. Tuy vậy, đa số các cuộc sưu tầm tục ngữ chỉ cung cấp văn bản. Đây là sưu tầm tục ngữ không có bối cảnh. Tục ngữ, với tính cách là những ví dụ của một thể loại folklore có cụm từ cố định, phải được ghi bằng tiếng bản địa gốc để kết cấu cũng được giữ gìn. Nhưng bối cảnh thì sao? Bối cảnh cũng quan trọng như kết cấu, thế mà nó hầu như chẳng bao giờ được ghi. (...) Khi đã ghi cả văn bản lẫn kết cấu, chúng ta có thể nói câu tục ngữ có ý nghĩa gì không? Chúng ta có biết câu tục ngữ có thể được dùng lúc nào, như thế nào và tại sao không? Nên coi văn bản của tục ngữ là hơi giống phần của một tảng băng nổi trên mặt nước và mắt thường có thể dễ nhìn rõ. Cái mà câu tục ngữ lấy làm cơ sở có thể không nhìn thấy hoặc chìm dưới bề mặt, nhưng nhà nghiên cứu folklore có kinh nghiệm biết cách dò đến điểm thấp nhất. Đặt vấn đề theo cách khác, một tục ngữ có thể ví với "từ tương liên khách quan" của T.S. Eliot ở chỗ nó thường là biểu hiện riêng hoặc chuỗi sự kiện dùng để gợi ra một cảm xúc hay thái độ nào đó. Do đó, thảo luận về một tục ngữ mà không nói đến điều mà tục ngữ gợi ra thì cũng vô bổ như nghiên cứu các ám chỉ văn học mà chẳng hiểu điều mà các ám chỉ nói bóng gió. Nếu có văn học truyền miệng, thì cũng có phê bình văn học truyền miệng hoặc bản địa. Các nhà nghiên cứu folklore sai lầm khi chỉ ghi văn bản và cho rằng họ sẽ tiến hành tất cả việc phân tích (hoặc phê bình văn học) cần thiết." [8, 515- 516].

Theo Alan Dundes, kết cấu, văn bản và bối cảnh đều phải được ghi lại. Quan hệ qua lại giữa ba cấp của chúng đều phải được xem xét toàn diện. Thay đổi trong bối cảnh rõ ràng có thể làm thay đổi trong kết cấu. Rất tiếc điều này đã không được thực hiện trong quá trình sưu tập về tục ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Và chính vì thế, hiện nay chúng ta chỉ có văn bản tục ngữ, còn cả quá trình hình thành nên nó, từ một phát ngôn tự nhiên phản ánh những quan niệm nhân sinh hay đúc kết những vấn đề trong xã hội, những kinh nghiệm về các hiện tượng tự nhiên, chăn nuôi hay trồng trọt...cho đến lúc cố định hoá bằng những khuôn hình và được ghi lại ngày nay chúng ta không thể biết được. Ngay từ lúc sinh thành, một câu tục ngữ nào đó được dùng để biểu trưng điều gì trong cuộc sống? Người ta vận dụng nó trong những hoàn cảnh giao tiếp gì? Nhằm mục đích gì, tác động như thế nào?...Các câu hỏi đó gần như chúng ta khó trả lời chính xác vì thiếu ngữ cảnh vận dụng chúng. Và, như thế, văn bản tục ngữ giống như chú cá bị lưới giăng câu bắt khi đang tung tăng bơi lội giữa sông nước bao la rồi được đưa đem về khảo sát. Chúng ta chỉ thấy được nó ở trạng thái bất động, vô hồn, khô héo. Khi đắm mình giữa sông nước hay đại dương mênh mông, chú cá kia sẽ bơi lội như thế nào, dáng vẻ ra sao? Chúng sinh sống ra sao?...Chắc chắn nó sẽ muôn hình, vạn trạng và đầy bất ngờ lí thú. Khi bàn về nguồn gốc của tục ngữ, Chu Xuân Diên có dẫn ra trường hợp sau: "Khi dẫn câu "Bè ai nấy chống" thì ý ta muốn nói rằng "ai có phận người nấy", "việc của ai người nấy làm"! Nhưng tại sao lại "Bè ai nấy chống"? Theo nhân dân vùng Đồng Nai (Nam bộ) thì cách đây khoảng 300 năm, đất vùng này còn hoang vu. Những người đến khai phá, sinh cơ lập nghiệp đầu tiên ở đây thường tập hợp sống thành từng bè với nhau trên sông nước, nương tựa vào nhau mà sống, có việc gì thì chèo chống với nhau. Câu tục ngữ nói về cái nếp sống vốn rất cụ thể của những người dân Đồng Nai đầu tiên ấy, về sau được dùng để nói về cái nếp sống "việc ai người nấy làm" phổ biến trong xã hội phong kiến với nền sản xuất nhỏ có nhiều phần mang tính chất tự cấp tự túc. Cùng với quá trình biến nghĩa đó, hiện tượng đời sống cụ thể làm cơ sở cho nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của câu tục ngữ cũng lui vào quá khứ và trở thành một hiện tượng xã hội chỉ có ý nghĩa đánh dấu một đặc điểm giai đoạn đã qua của đời sống nhân dân, đời sống dân tộc." [1, 68]. Cứ tạm cho rằng nguồn gốc của câu tục ngữ "Bè ai nấy chống" của tác giả sách "Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn" đưa ra (mà Chu Xuân Diên dẫn lại) là chính xác thì chúng ta cũng thấy một điều thiếu ngữ cảnh vận dụng sẽ gây khó khăn như thế nào trong việc tìm hiểu tục ngữ. Ta vẫn có thể khảo sát chúng nhưng chẳng khác gì các nhà cổ sinh vật học nghiên cứu hoá thạch. Tất nhiên, không thể trả tục ngữ về căn nhà xưa, chốn quê cũ nơi nó đã sinh thành và phát triển vì đã có quá nhiều "thương hải tang điền" nhưng có thể khảo sát chúng ở môi trường vận dụng mới để tìm hiểu nghĩa của chúng (và cả những vấn đề khác nữa) một cách sinh động, "đời thường" hơn.

2. Chu Xuân Diên có viết: "Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội. Mỗi người dân trong một xã hội nhất định đều có thể ít hay nhiều tích luỹ trong trí nhớ và hay dùng đến một số câu tục ngữ nhất định phù hợp với kinh nghiệm sống và lí tưởng sống của người ấy, còn toàn bộ những câu tục ngữ được nhân dân một dân tộc sáng tạo, tích luỹ, lưu truyền và dùng đến trong đời sống hàng ngày thì hợp thành vốn tục ngữ của dân tộc, vốn tục ngữ này phản ánh khá trung thành những kinh nghiệm sống và lí tưởng của nhân dân, dân tộc ấy trong một thời kì lịch sử nhất định. [1, 52-53]

Về việc vận dụng tục ngữ ông cũng có viết như sau: "... về phía người nghe, tuỳ theo từng thời đại khác nhau và cả từng hoàn cảnh khác nhau trong một thời đại nhất định, có thể đồng ý hoặc phản đối những "phương châm xử thế" mà người nói nêu ra qua các câu tục ngữ. Còn về phía người nói thì với tư cách là những "phương châm xử thế", những tư tưởng của các câu tục ngữ mà họ sử dụng rõ ràng là những tư tưởng nằm trong hệ thống quan niệm của họ, hay ít nhất cũng phù hợp với hệ thống quan niệm của họ về cuộc sống." [1, 52]

2.1. Trong "Tục ngữ Việt Nam- cấu trúc và thi pháp" [5], Nguyễn Thái Hoà đã có những lời bàn lí thú về vấn đề vận dụng của tục ngữ. Vềhoàn cảnh vận dụng, ông cho rằng nó thường xuất hiện trong những trường hợp sau:

- Khi cuộc giao tiếp có vấn đề gay cấn, phải thương lượng, thuyết phục đối tượng, hoặc là những trường hợp tế nhị, khó thiết lập quan hệ, nói năng trở thành không dễ dàng. Đó là những trường hợp: đi ăn hỏi (hỏi vợ), trò chuyện giữa nhà trai và nhà gái; thuyết phục những người nặng óc bảo thủ thay đổi ý kiến trong sự vận động sinh đẻ có kế họach; quảng cáo hàng hóa, thuyết phục người mua khó tính...

- Có những hiện tượng khó gọi tên cho thật đúng, thật sát bằng một từ, thậm chí bằng một câu hay một đoạn nhiều câu, trong khi người nói lại muốn tránh bày tỏ thái độ một cách lộ liễu. Những tình thái của phát ngôn hoặc hàm ý do người nghe tự suy ra mà hiểu, nên phải dùng tục ngữ.

- Thông thường nhất là dùng tục ngữ để lập luận, lí giải. Ông cho rằng, chức năng lập luận là một chức năng chủ yếu của tục ngữ. Nhưng cách thức sử dụng rất đa dạng, hoặc có thể chỉ là một hàm ngôn giao tiếp, hoặc là sử dụng nguyên vẹn, hoặc dùng một phần để gợi ý cho người nghe, hoặc biến đổi theo cách diễn đạt của mình.

Như vậy, giữa văn bản tục ngữ và ngữ cảnh vận dụng có mối quan hệ gắn chặt với nhau. Giống như các thể loại khác của văn học dân gian, tục ngữ có thể phục vụ như một phương tiện truyền bá tư tưởng khách quan cho sự giao tiếp cá nhân, tức chủ quan của người nói.

2.2. "I know the proverbs, but I don't know how to apply them" ( Tôi biết tục ngữ nhưng tôi không biết vận dụng nó như thế nào). Đây là lời phát biểu của một thanh niên người Ibo, sinh viên Trường đại học California tại Bakekeley, mà Alan Dundes dẫn ra khi mở đầu bài "Proverbs and the ethnography of speaking folklore" [12]. Sinh viên ấy giải thích rằng nền giáo dục Đông- Tây ở Nigeria đã cắt đứt anh khỏi cách vận dụng tục ngữ hàng ngày. Vì thế, trong khi hồi tưởng lại ngữ cảnh của số lớn tục ngữ, anh ấy không thể nhớ đích xác là làm thế nào và khi nào chúng được vận dụng trong tình huống đặc thù.

Sự phân biệt giữa biết và vận dụng tục ngữ có ý nghĩa quan trọng đứng về mặt phương pháp luận nghiên cứu folklore. Đặc biệt, nó tạo nên sự khác biệt giữa những văn bản thu được và sự tiếp thu bằng cách vận dụng của những văn bản thực tế của một người nào đó. Folklore được dùng về cơ bản như một phương tiện giao tiếp và nó như là một phương tiện giao tiếp nên cần được nghiên cứu. Và điều này gần như bất khả với việc sưu tập bằng thực tế thông thường như những văn bản độc lập, sự thực hành thích hợp với sự nhận định sai lầm trong văn hóa dân gian phụ thuộc vào tri thức hơn là phụ thuộc vào dân gian.

Để nghiên cứu văn học dân gian rõ ràng người ta không thể giới hạn trong văn bản. Người ta cần văn bản trong ngữ cảnh của nó. Người ta cần hỏi, không chỉ cho tục ngữ mà còn cho thông tin được xem như là những thành tố khác của những tình huống mà trong đó tục ngữ được dùng. Cái gì là những quy luật chi phối? Ai có thể dùng tục ngữ và nói về ai? Tùy thuộc vào những trường hợp nào? Nơi nào? Với những người có mặt hay vắng mặt? Dùng trong kênh giao tiếp nào? Có những hạn chế hoặc những sự chỉ dẫn về cách dùng tục ngữ hoặc tục ngữ phải làm với những chủ đề đặc biệt? Với những mối quan hệ đặc biệt giữa người phát ngôn và người thụ ngôn? Cái gì chính xác là những nhân tố ngữ cảnh cung cấp tạo nên cách dùng tục ngữ có thể hoặc không có thể, phù hợp hoặc không phù hợp?

Về nguyên tắc, càng nhiều ngữ cảnh khác nhau của tục ngữ có thể được ghi lại càng nhiều cái có thể cho thấy rằng tục ngữ và ý nghĩa của nó trong nền văn hoá từ đó nó vận dụng sẽ được hiểu. Việc nghiên cứu văn bản của tục ngữ và những tình huống trong đó nó xảy ra có lẽ cung cấp dữ kiện hữu ích cho mối tương quan cả hai. Rất tiếc là hầu hết những công trình sưu tập về tục ngữ bao gồm những văn bản trơ trụi.

3. Tục ngữ được vận dụng trong nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau và trong mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ chúng cũng được vận dụng rất đa dạng. Ngay cả với một tục ngữ, khả năng vận dụng của chúng cũng rất linh hoạt, khả năng này là do: "Vì trường nghĩa của câu tục ngữ đa nghĩa thường khá rộng (xoay quanh một nghĩa cơ bản) cho nên nó có khả năng ứng dụng vào những tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trên thực tế, sử dụng một câu tục ngữ một cách đích đáng, ở một hoàn cảnh thích hợp, xét về mặt "hành ngôn", gần như là khám phá ra một nghĩa mới thuộc trường nghĩa của nó, nếu không muốn nói là "phát minh" ra một "ẩn dụ" mới." [10, 379].

3.1. Nghĩa của tục ngữ có thể được khảo sát qua văn bản. Đây là điều mà chúng ta đã nghiên cứu. Trong các công trình nghiên cứu về tục ngữ, khi bàn về nghĩa của tục ngữ, các nhà nghiên cứu chủ yếu xét ở góc độ văn bản. Môi trường vận dụng chúng, "sự mở rộng nghĩa" khi chúng được hiện thực hoá trong ngữ cảnh giao tiếp ít được chú ý đến. Về vấn đề này, Bùi Mạnh Nhị có nói như sau: "Quá trình từ "nói một" đến "hay mười" chính là quá trình mở rộng nghĩa, mở rộng nội dung kinh nghiệm được đúc kết trong mỗi câu tục ngữ. Và vì vậy tìm hiểu tục ngữ không thể không miêu tả nghĩa của nó trong quá trình nhân dân sử dụng. Tiếc thay, điều này chưa được chú ý đúng mức trong hoạt động sưu tầm, nghiên cứu và giảng dạy. Nhiều người mới phân tích tục ngữ trên chữ nghĩa, chứ chưa tìm hiểu nó trong cuộc đời.". [6, 245] Trong các quyển từ điển tục ngữ, khi giải thích nghĩa, người ta có cố gắng chọn ra một trường hợp vận dụng tiêu biểu để "thuyết minh" nghĩa đã được giải thích mà thôi. Cả hai đều đúng nhưng chưa đủ, chưa phản ánh "tính nhiều nghĩa" và sự phong phú, đa dạng trong sự phô diễn của tục ngữ. Người ta hiểu nghĩa của tục ngữ và vận dụng chúng như thế nào? Chính ngữ cảnh sẽ cho ta biết rõ điều đó.

3.2. Có thể dễ dàng nhận ra rằng, nghĩa của tục ngữ trong văn bản mang tính trừu tượng và khái quát. Nhưng dù vậy, nét nghĩa này vẫn tồn tại một cách im lìm trong ý thức, tư duy của người bản ngữ hoặc trong các từ điển tục ngữ. Còn nghĩa của tục ngữ trong ngữ cảnh mang tính linh hoạt, cụ thể và tồn tại trong một hoàn cảnh vận dụng cụ thể. Có nghĩa là khi được vận dụng, tục ngữ như được khoác một bộ cánh mới, sinh khí mới, vận động mới, phần hồn mới và đem đến cho chúng ta một phát hiện mới do hoàn cảnh mới tạo ra.

Có một thực tế trong sự tri nhận tục ngữ là người ta biết tục ngữ và hoàn toàn có thể vận dụng chúng trong thực tế giao tiếp nhưng nếu được yêu cầu giải thích nghĩa câu tục ngữ đó thì không hiếm người sẽ trở nên lúng túng. Và nếu lại tiếp tục đề nghị thử đặt một ngữ cảnh trong đó có sử dụng tục ngữ thì mỗi người sẽ cho ra những đáp án khác nhau thậm chí có người không tìm ra một ngữ cảnh phù hợp. Điều này cho thấy tục ngữ tồn tại trong ý thức của người dùng và chúng có trường nghĩa rất rộng, mang tính trừu tượng, khái quát cao. Tục ngữ rất quen thuộc và với một người đã trưởng thành, vốn tục ngữ được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau không phải là ít. Thế nhưng, cũng giống như ngôn ngữ, nó chỉ hiện thực hoá trong quá trình giao tiếp. Các nhà làm từ điển về tục ngữ đã cố gắng giải thích nghĩa của chúng qua văn bản. Sự giải thích đó rất có ích cho sự tra cứu, khảo sát, tìm hiểu chúng nhưng có một thực tế phải nhìn nhận là nó vẫn mang tính sách vở, hàn lâm. Cho dù có khó khăn khi đưa ra một lời giải thích về nghĩa của tục ngữ; cho dù chưa từng đọc một lời giải thích về nghĩa một cách rất rõ ràng, minh bạch như từ điển nhưng nhiều người dân bình thường vẫn thường xuyên vận dụng chúng một cách rất sinh động, hấp dẫn trong lời nói hàng ngày. Điều gì làm nên khả năng đó? Đó là do sự tri nhận vốn tục ngữ của mỗi cá nhân qua quá trình sống, tiếp nhận và tích luỹ trong cái nền văn hoá chung của cộng đồng người đã sản sinh ra tục ngữ. Và cứ mỗi một lần tái sinh, nó lại có một cuộc đời mới, sức sống mới, hơi thở mới. Tục ngữ chỉ thật sự sống, trường thọ hay yểu mệnh, khi nó được vận dụng trong lời nói chứ không phải được điểm danh và nằm trang trọng nhưng im lìm trong các công trình sưu tập về chúng.

4. Có thể nói, sự khác nhau giữa nghĩa của tục ngữ qua văn bản với nghĩa của tục ngữ trong môi trường vận dụng chẳng khác nào sự khác nhau giữa trang sách và cuộc sống, giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, giữa gốc khô thô nhám và cây đời xanh tươi. Ví dụ câu tục ngữ "Bụt trên toà gà nào dám mổ mắt". Nó có trong tư duy của chúng ta và chúng ta cũng không cần giải thích nghĩa của nó là gì nhưng chúng ta hiểu đại khái nét nghĩa cơ bản qua quá trình tiếp nhận chúng trong cuộc sống. Còn các nhà từ điển thì giải thích: "Không làm điều gì sai trái, thì không ai dám động đến hoặc chống đối lại" [2, 106] Thế thì nó được vận dụng trong trường hợp nào và nhằm để biểu đạt cho một vấn đề cụ thể gì? Trong ngữ cảnh (a) dưới đây, Nguyễn Công Hoan sẽ cho ta lời giải:

a) Này chị Pha, tôi nói cho mà biết, có về bảo anh ấy đổi tên thằng bé, không có chẳng ra gì với tôi đâu.

-Ừ đấy! Cứ đặt thế đấy, nghĩa là sinh sự thì sự sinh, chứ bụt trên toà gà nào dám mổ mắt."

(Nguyễn Công Hoan- Bước đường cùng, tr 24)

Hoàn cảnh nảy sinh vấn đề ở đây là do nhà chị Pha đặt tên thằng bé đã đụng chạm đến một điều hết sức tế nhị trong quan niệm của người Việt Nam: những người trong làng xóm và nhất là trong họ tộc khi đặt tên cho con phải kiêng kị, tránh trùng với tên người lớn. Và do đó, xích mích, bất hoà đã xảy ra. Tuy nhiên, chị Pha vẫn không chịu nhường và đã dùng câu tục ngữ trên để bảo vệ quan điểm của mình. Ở đây chúng ta thấy, nghĩa của tục ngữ trong ngữ cảnh trên là: Điều đó làm không sai (việc đặt tên cho thằng bé), người nào chống đối cũng không sợ. Trong thực tế của cuộc sống, lắm khi ta không làm điều gì sai mà kẻ khác do đố kị, ghen ghét tìm cách xúc xiểm, chống đối một cách phi lí. Tuy nhiên, ở ngữ cảnh trên, ta thấy chị Pha đã viện đến câu tục ngữ nửa như thách thức, nửa như chống chế.

4.1. Văn bản tục ngữ "Cha làm thầy, con đốt sách" được hiểu là: "Con cái không noi được chí cha, tiêu tán cơ nghiệp của cha". [2,136]. Thế nhưng trong thực tế vận dụng, vế "Cha làm thầy" ít khi được chú ý hoặc được ẩn đi, hay không phải là mục đích biểu đạt. Đôi khi câu tục ngữ chủ yếu chỉ được dùng để lên án, phê phán những đứa con hư hỏng, ăn chơi, bài bạc nói chung như trong ngữ cảnh (b) dưới đây:

b) Tiếng một vị cắt ngang:

- Tôi càng điên người vì thằng con đang trổ tài đua xe, xin tiền học ngoại ngữ, nó nướng sạch vào sòng bạc. Điệu này, cha làm thầy, con đốt sách.

(Huỳnh Thạch Thảo- Chuyện nhà Thạc- VN số 48, ngày 26-11-2005, tr 09.)

Đây là những lời phàn nàn, ca thán của các ông bố về sự hư hỏng, sa đoạ của những quý tử. Và điều đáng nói ở đây là các ông bố đã gần như bất lực, không thể giáo dục được con cái nữa nên thấy được một tương lai đen tối đang đón đợi chính con mình và nhất là của gia đình mình. Câu tục ngữ đã được dùng để thể hiện những suy nghĩ đó.

Ngữ cảnh (c) cho ta thấy một cách dùng và cách hiểu khác về câu tục ngữ "Con gà tức nhau tiếng gáy" như sau:

c) Chúng ta đừng nghĩ rằng sự lớn mạnh của một đối thủ cạnh tranh nào đó thì sẽ bất lợi với mình, mà sự lớn mạnh này sẽ là động lực thôi thúc chúng ta phải lớn mạnh theo. Dân gian VN gọi đó là "sốt ruột" hay "con gà tức nhau tiếng gáy". Lí thuyết phát triển cho rằng đây là động lực lớn nhất để phát triển.

(Tuổi trẻ thứ hai, 18-7-2005, trang 03)

Câu này có nghĩa: "Tâm lí thích ganh đua, chơi trội, không chịu được khi thấy người khác hơn mình."[2, 371] Nghĩa câu tục ngữ có sắc thái biểu cảm âm tính. Nó thường được dùng để phê phán một thái độ, tâm lí hay hành động của người nào đó. Nhưng trong ngữ cảnh trên, tác giả lại hiểu nó ở góc độ tích cực. Nó không phải là sự "ganh đua, chơi trội" mà là sự cạnh tranh và đó là động lực cho sự phát triển, mà ở đây là giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, cách nhìn của người viết cũng như mục đích biểu đạt đã tạo ra một ngữ cảnh nhất định trong đó nghĩa của tục ngữ được quy định hoặc chi phối không chỉ bởi ngữ cảnh mà còn là các nhân tố ngoài ngôn ngữ.

Chúng ta thử xét một trường hợp khác. Câu tục ngữ "Đói cho sạch, rách cho thơm" có nghĩa: "Dù thiếu thốn cũng phải ăn mặc cho sạch sẽ; Dù nghèo cũng phải giữ nhân cách, không làm điều nhơ nhuốc" [2, 329]. Đấy là một triết lí, một lời khuyên về đạo lí làm người. Câu tục ngữ này thường được dùng để nói về phẩm chất con người, dù nghèo khó cũng không "Bần cùng sinh đạo tặc". Trong ngữ cảnh (d), chúng ta thấy nó đã được dùng với nét nghĩa mới: khẳng định về sự kiên cường, bất khuất, dũng cảm của người dân Hà Nội dù phải chịu nhiều mất mát, khó khăn, thiếu thốn vẫn anh dũng chiến đấu.

d) "Và nói cho cùng, nếu như cuộc chiến đấu còn kéo dài nhiều năm nữa, Hà Nội dù có tan nát, người Hà Nội dù phải đói rách, thì cũng sẽ là đói mà sạch, rách mà thơm, xứng đáng với lòng tin yêu cả nước."

(Lưu Quý Kỳ-Tâm sự với anh-, tr 204)

4.2. Như vậy, giữa nghĩa của tục ngữ trong văn bản và nghĩa của tục ngữ trong ngữ cảnh có khi có sự dị biệt và đôi khi nó vượt qua cái nghĩa cơ bản vốn chỉ có thể tồn tại trong văn bản tục ngữ. Điều này có thể giải thích do tục ngữ có nghĩa biểu trưng nên việc chỉ ra nghĩa của chúng một cách đầy đủ, ngắn gọn, cụ thể là điều không dễ dàng và trong vận dụng nó lại được "mở rộng nội dung ngữ nghĩa". Câu tục ngữ "Giỏ nào hom ấy" có nghĩa là: "Thứ nào, loại nào thì lại phù hợp, thích ứng cùng với thứ ấy, loại ấy; Người đàn ông thế nào thì lại có người đàn bà như thế phù hợp, vợ chồng tương xứng mọi mặt." [2, 603] nhưng trong ngữ cảnh (e) thì nó lại được dùng tương đồng về nghĩa với các câu tục ngữ như "Cha nào, con nấy", hoặc "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh".

e) Bận rộn lắm! Nhưng chúng vẫn cứ đú đởn nữa chứ. Chính ông cũng bị bà ấy là con gái Mường Lò giữ chân khi lên đây công tác. Còn thằng con ông thì vút về Hà Nội lôi con bé xinh đẹp nhất vùng trở về. Giỏ nào hom ấy, bố con ông một đồng một ruộc cả thôi. Chắc chắn chúng ra suối chơi trò nhạc nước với nhau rồi!

(Tô Đức Chiêu- Suối nàng tiên- VN số 31, ngày 30-7-05, tr 17)

Trong tư duy của người Việt, hai hình ảnh "giỏ" và "hom" thường được dùng để biểu trưng cho mối quan hệ tương xứng, phù hợp giữa vợ và chồng (Đàn ông như giỏ, đàn bà như hom). Nhưng ở ngữ cảnh này tác giả đã dùng để biểu trưng cho mối quan hệ cha con, vốn không phải là mối quan hệ tương xứng, phù hợp mà là mối quan hệ giống nhau. Ở đây là lời đánh giá của nhân vật về cha con người bạn của mình. Và là bạn bè gần gũi, thân thiết nên câu tục ngữ dùng ở đây có sắc thái biểu cảm dương tính. Người cha vốn phong lưu, đa tình, đa cảm và người con thì cũng không kém người cha. Nhưng nhờ ngữ cảnh, người đọc vẫn tiếp nhận được, vẫn hiểu được nghĩa của tục ngữ trong cách vận dụng trên. Ngữ cảnh (f) cũng là trường hợp tương tự:

f)"Con gà trống đi lang thang suốt ngày, hết nhà này sang nhà khác. Bà tôi đã có lần mắng tôi:

- Rõ người làm sao bào hao làm vậy. Cái đồ hay lêu têu nuôi được con gà cũng lêu têu cả ngày."

(Mạnh Phú Tư - Sống nhờ)

Câu tục ngữ: "Người làm sao, bào hao làm vậy" được tập thể tác giả "Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam" giải thích như sau: "Người nhẹ dạ nông nổi, chỉ hùa theo người khác, không có bản lĩnh." [2, tr 17] Tuy nhiên, dựa vào ngữ cảnh ta thấy, nghĩa mà tác giả vận dụng ở đây lại là mối quan hệ giống nhau do sự liên quan, ảnh hưởng nhau như "Thầy nào, trò nấy", "Chủ nào, tớ nấy", "Rau nào, sâu nấy". Vậy nghĩa của câu tục ngữ trên có phải nhờ ngữ cảnh đã khiến cho chúng ta hiểu như vậy hay cách giải thích của từ điển chưa chính xác. Và chúng tôi nghĩ rằng Mạnh Phú Tư dùng đúng, hiểu đúng hơn tập thể tác giả từ điển. "Bào hao" có nghĩa bồn chồn không yên lòng. Câu tục ngữ có nghĩa là "người thế nào thì tính cách, hành động như thế" và ở đây có sự mở rộng nghĩa. Chính ngữ cảnh đã làm bộc lộ nội dung ngữ nghĩa mới của câu tục ngữ mà chúng tôi đã nói ở trên. Sự so sánh ở đây lại thật thú vị. Lời mắng yêu của bà với đứa cháu là một phát hiện. Ngay đến vật nuôi nó cũng giống chủ, cứ suốt ngày lang thang, rong chơi mà chẳng làm nên tích sự gì.

4.3. Trong sự vận dụng tục ngữ, có một hình thức rất đặc biệt là mượn ý hoặc từ ngữ của câu tục ngữ nhằm biểu đạt cho một vấn đề mới, cụ thể mang tính chất châm biếm, đùa vui. Đấy là hình thức mô phỏng hoặc triển khai khuôn hình tục ngữ. Qua việc vận dụng này, chúng ta cũng thấy ảnh hưởng của tục ngữ trong đời sống văn hoá, tinh thần cũng như cách hiểu và vận dụng nghĩa của chúng trong cách nói năng ở một góc độ khác.

Câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" có nghĩa:"Khi được sung sướng hưởng thành quả, phải nhớ đến người đã có công gây dựng nên"[2, 42]. Hành động "ăn quả" ở đây được dùng để biểu trưng cho việc hưởng lợi, đạt thành quả chứ không phải được dùng với nghĩa đen. Câu tục ngữ trên có cách dùng mô phỏng như sau: "Ăn quả nhớ kẻ ...xịt thuốc". Như vậy, ở đây nó đã được dùng với nghĩa đen với hàm ý châm biếm về việc sử dụng thuốc hoá chất quá nhiều làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng. Hay một trường hợp sử dụng khác:

"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Vào thi nhớ kẻ cho quay cóp bài."

(TT Cười 174, 7-1998)

Nghĩa của câu tục ngữ đã được dùng nhằm thuyết minh cho một vấn đề cụ thể, và ở đây nó được dùng với mục đích châm biếm, phê phán hiện tượng tiêu cực trong thi cử trong sinh viên, học sinh. Nghĩa của câu tục ngữ đã được cụ thể hoá bằng vế được triển khai thêm trong ngữ cảnh trên.

Để biểu trưng cho sự đoàn kết, sự cảm thông, chia sẻ của cộng đồng khi có người gặp điều không may, tục ngữ ta có câu: "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ". Thế nhưng câu tục ngữ trên lại được "lẩy" và nhằm đề cập đến một tình huống ngược lại với nghĩa trên, đó là không có sự cảm thông, chia sẻ. Những câu tục ngữ mô phỏng sau đây có thể là để phê phán hoặc có thể chỉ là một hình thức chơi chữ nhằm mục đích đùa vui:

- Một con ngựa đau, cả tàu ...bỏ chạy.

- Một con ngựa đau, cả tàu... lợi phần cỏ.

( TT Cười 297, 01-11-05, tr 08)

- Một toa bị "đau" cả tàu dừng lại.

( TT Cười 267, 15-7-04, tr 34)

Câu tục ngữ "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" được dùng với nghĩa đề cao sự đoàn kết, sức mạnh của tập thể, cộng đồng. Nét nghĩa này thường được dùng để nói về những công việc lớn, trọng đại, có ý nghĩa. Thế nhưng, câu tục ngữ trên được mô phỏng lại để dùng với nét nghĩa mới là châm biếm, mỉa mai về một hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội. Ví dụ như:

- Một cây làm chẳng nên non,

Gặp không tán gẫu thế còn... gì vui.

(TTC 305, 01-4-06, tr 14)

- Một ông làm chẳng nên... tay

Ba, bốn ông chụm lại làm ngay... một sòng.

(TTC 297, 01-11-05, tr 20)

Tóm lại, ở góc độ văn bản, nghĩa của tục ngữ mang tính trừu tượng, khái quát. Tuy nhiên, như đã nói, tục ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói. Chính trong môi trường vận dụng, do sự chi phối bởi các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp...mà biểu trưng của tục ngữ trở nên cụ thể. Hay nói cách khác, với cùng một tục ngữ, khi xuất hiện trong những ngữ cảnh khác nhau nó sẽ có một sắc thái nghĩa riêng.

--------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Chu Xuân Diên- Lương Văn Đang- Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Vũ Dung- Vũ Thuý Anh- Vũ Quang Hào (1995), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.

3. Nguyễn Xuân Đức (2000), "Về nghĩa của tục ngữ", T/C Văn hoá Dân Gian, 4 (72), tr 48- 52.

4. Nguyễn Thị Hiền (2000), "Quan niệm mới về Folklore và quá trình văn bản hóa Folklore ở Hoa Kì", Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian, Hội Văn nghệ Dân gian, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr 569- 610.

5. Nguyễn Thái Hoà (1997), Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp, NXB Khoa học xã hội.

6. Bùi Mạnh Nhị (1999), "Tục ngữ", Văn hoá dân gian những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục, tr 242 - 248.

7. Lý Toàn Thắng (2005), Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

8. Ngô Đức Thịnh- Frank Proschan (2005), Folklore thế giới Một số công trình nghiên cứu cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

9. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

10. Đỗ Bình Trị (2000), "Những đặc điểm thi pháp của tục ngữ", Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr 352- 379.

11. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và THCN, Hà Nội.

12. Alan Dundes (1978), Essays in Folkloristics, Folklore Institute.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa dân gian, số 05 năm 2006

Go to top